Hệ thống giáo dục nước Mỹ

Cập nhật: 04/01/2018
Lượt xem: 83888
            Du học Mỹ ngày càng trở nên phổ biến đối với học sinh sinh viên (HSSV) trên toàn thế giới, và Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Hệ thống giáo dục sau bậc trung học tại Mỹ rất da dạng.
 
Du học Mỹ ngày càng trở nên phổ biến đối với học sinh sinh viên trên toàn thế giới.
 
I. Đặc điểm chung.
      Giáo dục Mỹ chủ yếu là nền giáo dục công, do chính quyền liên bang, tiểu bang, địa phương ở Mỹ điều hành và cung cấp tài chính. Việc giáo dục trẻ em ở độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo mang tính chất bắt buộc.
      Một phần của giáo dục bắt buộc được thực hiện thông qua nền giáo dục công. Giáo dục công có tính chất phổ cập ở cấp tiểu học và trung học. Ở các cấp học này, hội đồng học khu gồm những thành viên được bầu chọn thông qua bầu cử ở địa phương đề ra chương trình học, mức độ hỗ trợ tài chính, và những chính sách khác.
      Các học khu có nhân sự và ngân sách độc lập, thường tách biệt khỏi các cơ cấu có thẩm quyền khác ở địa phương. Chính quyền các tiểu bang thường quyết định các tiêu chuẩn giáo dục và thi cử.
      Độ tuổi bắt buộc đi học thay đổi tùy theo tiểu bang, độ tuổi bắt đầu ở khoảng từ 5 đến 8 tuổi và độ tuổi có thể nghỉ học ở khoảng từ 14 đến 18 tuổi. Càng ngày càng có nhiều tiểu bang yêu cầu thanh thiếu niên phải học cho đến khi đủ 18 tuổi.

II.  Những nét nổi bật của hệ thống giáo dục tại Mỹ.
      Hệ thống giáo dục ở Mỹ là sự tổng hợp của các trường ĐH nổi tiếng thế giới trong đó các chương trình học đều đạt đến đỉnh cao cùng với sự hiện đại, phong phú, đa dạng nhất trên thế giới.
      SV du học ở Mỹ có thể chọn bất kỳ một ngành yêu thích để học. Bất cứ môn học chuyên ngành nào cũng đều đạt chất lượng quốc tế. Giáo dục ở Mỹ có một đặc trưng tiêu biểu là số lượng SV nước ngoài rất lớn.
      Hầu như tất cả các lớp học, trường học số lượng SV quốc tế chiếm hơn một nửa. Môi trường SV quốc tế cũng rất phong phú về văn hoá, ngôn ngữ, con người. Không ở đâu bạn thấy được số lượng tri thức nước ngoài lớn như ở Mỹ.
Năm học thường khai giảng từ tháng 9 đến tháng 6 với 2 tháng nghỉ hè. Một năm có 3 học kỳ. 

III. Những cơ quan kiểm định chất lượng.
      Các đơn vị đào tạo sẽ được kiểm tra về mọi mặt để xác nhận sự hoạt động của nó là có giá trị, cho ra những văn bằng có chất lượng.
      Ở Mỹ có 2 cơ quan công nhận (accrediting agencies) các tổ chức kiểm định là Bộ Giáo dục liên bang (USDE) và Hội đồng kiểm định GD ĐH Mỹ (CHEA), trong đó USDE là cơ quan nhà nước và CHEA là cơ quan độc lập được các trường và các tổ chức kiểm định thừa nhận. Như vậy, hai cơ quan này không trực tiếp kiểm định các trường mà các trường kiểm định thông qua các tổ chức kiểm định.
      Uy tín nhất là 8 tổ chức kiểm định ở 6 vùng địa lý như: vùng đông bắc, vùng phía nam, vùng phía tây; rồi đến 11 tổ chức cấp quốc gia như Hội đồng (HĐ) kiểm định giáo dục và đào tạo từ xa, HĐ kiểm định các trường CĐ và trung học dạy nghề; 66 tổ chức chuyên môn nghề nghiệp như: HĐ kiểm định về điều dưỡng ĐH, HĐ kiểm định về đào tạo giáo viên, Ủy ban Kiểm định nha khoa Mỹ.
      Các tổ chức này được USDE hoặc CHEA hay cả 2 cơ quan này đồng công nhận. Cấp tiểu bang không ủy quyền hay cấp phép cho các tổ chức kiểm định. Tính đến thời điểm này, cả USDE và CHEA đều có cơ sở dữ liệu về các trường sau bậc trung học được kiểm định, với khoảng 7.700 trường và 18.700 chương trình đào tạo. Có những trường được cả 2 cơ quan này công nhận. 

IV. Các chương trình học.
Chương trình Tiểu học (tuổi từ 5 đến 10):
  •  Học 6 năm.
  • Nhập học từ 5 tuổi, các em vào trường mẫu giáo và bắt đầu trường tiểu học vào 6 tuổi.
  • Mỗi năm tương đương với mỗi lớp.
Chương trình Trung học cơ sở (tuổi từ 11 đến 13):
  • Học từ 2 đến 3 năm tuỳ vào hệ thống từng trường.
  • Được biết như là trường chuyển cấp.
  • Các em đi học năm đầu tiên ở trường mẫu giáo từ lúc 5 tuổi và sau đó bước vào lớp 1 đến lớp 6 trường tiểu học. Lớp 7 đến lớp 9 là một trường khác biệt được biết đến là trường trung học hay trường chuyển cấp. Chương trình chủ yếu tập trung vào những môn như: Anh văn, Văn học, Toán và Khoa học. 
Chương trình Trung học phổ thông (tuổi từ 14 đến 17):
  • Học 4 năm.
  • SV Mỹ học và thi SAT, đó là điều kiện để vào hầu hết các trường ĐH.
  • Học lấy bằng trung học Mỹ.
  • Từ 14 đến 17 tuổi, HS học 4 năm ở trường trung học. Trong  suốt thời gian trung học, HS sẽ học kỹ hơn các môn. Tại thời điểm này HS có thể chọn các môn khác nhau. HS sẽ phải thi SAT vào cuối cấp để vào các trường ĐH. Tuy nhiên, SV quốc tế chỉ cần nâng cao kỹ năng Anh văn tương đối với điểm Toefl là có thể xin nhập học. 
Chương trình Đại học, Cao đẳng (từ 18 tuổi trở lên):
  • Học từ 2-4 năm.
  • Mỗi năm học từ 2 đến 3 học kỳ.
  • Bằng Associate hoặc bằng Bachelors được cấp vào cuối chương trình.
  • SV vừa học những môn giáo dục tổng quát, vừa học những khoá học chuyên sâu liên quan đến ngành học. Tuy nhiên, những chương trình tiến sĩ thường yêu cầu phải học nâng cao. 
*Ở Mỹ có ĐH công và ĐH tư:
      ĐH công lập: thường là các trường thuộc về tiểu bang thành phố hay trường ĐH cộng đồng. Những trường này thường dành ưu tiên về tài chính cho SV cư ngụ trong phạm vi của thành phố hay tiểu bang mình ở. SV ở tiểu bang phải trả học phí nhẹ hơn SV ở tiểu bang khác đến hay SV ngoại quốc.
      ĐH tư thục: được tổ chức giống như các trường ĐH khác nhưng chi phí sẽ cao hơn các trường ĐH công. Chủ nhân của các ĐH này là các tư nhân không liên hệ đến Chính phủ tiểu bang. Một số trường ĐH tư là những trường rất nổi tiếng như: Harvard, Yale, Princeton hay Stanforsd. SV ra trường từ các ĐH này thường được ưa chuộng trong thị trường việc làm.
 Chương trình hướng nghiệp tư:
Đào tạo học viên để đi làm những ngành nghề đang được các xí nghiệp cần mà học viên muốn đổi việc làm nhưng cần phải được huấn luyện thêm những kiến thức cần thiết về ngành nghề mới trước khi xin việc làm.

 
Nguồn: Internet
 
 

Để gửi bình luận về bài viết này. quý khách vui lòng điền đầy đủ thông tin vào các ô bên dưới

  Gửi
Lựa chọn liên kết
Đối tác
  • Đối tác 32
Nhận bản tin từ chúng tôi
Thống kê truy cập: Đang online: 64 - Tổng truy cập: 11.484.072